Việt Nam tiếp tục phát triển năng lượng đốt than mặc dù rủi ro về môi trường

Việt Nam đã có một năm bội thu trong việc thu hút FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) vào năm 2017. Ba dự án nhiệt điện đốt than đăng ký bởi các nhà đầu tư Nhật Bản có tổng vốn 7 tỷ USD.

Chính phủ kêu gọi đầu tư vào các dự án điện

Các dự án – Vân Phong I, Nghi Sơn II và Nam Định I – chiếm 40% tổng vốn FDI đăng ký trong năm.

Chính phủ đang kêu gọi đầu tư tư nhân và nước ngoài vào các dự án điện để giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Theo kế hoạch phát triển điện, Việt Nam hy vọng sẽ có 7 dự án đốt than được đăng ký vào năm 2017 sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2021 đến năm 2022. Vốn FDI trong các dự án nhiệt điện dự kiến ​​sẽ tăng gấp đôi con số thực.

Theo GreenID, Trung Quốc đứng đầu danh sách các nhà tài chính đang đổ tiền vào các dự án than đá, tiếp theo là Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, từ năm 2017, các khoản đầu tư từ Nhật Bản cao hơn Trung Quốc.

Động lực chính cho Nhật Bản để thúc đẩy đầu tư vào các dự án than đá ở Việt Nam là việc mở rộng thị trường cho các công ty của mình. Nhìn chung, có ba đối tượng tham gia vào tất cả các dự án, bao gồm nhà đầu tư, ngân hàng và nhà thầu EPC.

Ông Nguyễn Thị Hằng, điều phối viên của GreenID cho biết: “Như vậy, mục đích cuối cùng của đầu tư là xuất khẩu công nghệ và thiết bị từ các nước đầu tư, mang lại công ăn việc làm và lợi nhuận cho các công ty.

Hội doanh nghiệp Keidanren Nhật Bản liệt kê Việt Nam trong số các nước mục tiêu thúc đẩy việc sử dụng than tại Châu Á. Việt Nam là nước tiếp nhận vốn đầu tư lớn thứ hai của Nhật Bản cho các dự án than, sau Bangladesh, trên bản đồ khu vực “điểm nóng” cho phát triển điện than.

Trong một nỗ lực để giảm thiểu rủi ro đối với môi trường, các nhà đầu tư được yêu cầu sử dụng công nghệ siêu tới hạn và cực kỳ siêu tới hạn.

Theo NRDC (Hội đồng Quốc phòng Thiên nhiên), Nhật Bản đã quảng cáo công nghệ tiên tiến của mình để tăng công nghệ điện đốt than.

Tuy nhiên, các chuyên gia tin rằng công nghệ này chỉ là một chút tốt hơn so với công nghệ được sử dụng ở Việt Nam. Công nghệ của Nhật giảm tiêu thụ nhiên liệu và chi phí vận hành, trong khi lượng phát thải CO2 giảm là không đáng kể, chỉ 7-9%.

Ngoài ra, những cải tiến của công nghệ nồi hơi không có nhiều liên quan đến việc kiểm soát khí thải của bụi và khí độc như NOx và SOx.

Vì công nghệ được sử dụng để kiểm soát khí thải là rất tốn kém, nó sẽ chỉ được lắp đặt theo yêu cầu của nước chủ nhà.

Trong khi đó ở Việt Nam, giới hạn phát thải vẫn còn cao, trong khi việc giám sát và trừng phạt quá yếu.

Theo Hang, theo kế hoạch thứ bảy, công suất điện đốt than sẽ tăng lên năm lần vào năm 2030, điều đó cũng có nghĩa là rủi ro kinh tế và môi trường cao.